Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2008

Cô Giáo Lớp Năm Của Tôi

Cô Giáo Lớp Năm Của Tôi
Nguyễn Thượng Đức


Cho đến bây giờ, hơn bốn mươi năm sau ngày đầu tiên cắp sách đến trường, tôi vẫn còn nhớ, thương, và sợ, cô giáo đầu tiên của mình. Đây là cô giáo đã dạy tôi ăn, nói, tập đánh vần, tập đọc, tập viết, và cũng chính là cô giáo đã bắt tôi ở lại lớp năm (tức là lớp một sau này) ròng rã 3 năm trời liên tiếp.

Nói cho ngay, tôi không phải thuộc loại đần độn gì cho lắm. Suốt quãng đời làm học trò, tôi được đa số thầy cô chú ý, nhớ mặt để ... phạt đòn vì cái tật rắn mắt, láu vặt của mình. Mỗi cuối năm, tôi thường được phần thưởng, nhưng học bạ của tôi lúc nào cũng có những câu các thầy các cô phê vào như "thông minh, phá, nghịch", hoặc "khá, nghịch, lười". Nghĩa là toàn những câu bộc lộ tình thương có đi kèm với cái roi mây đánh vào đờ ít hoặc cái thước kẻ đánh vào tay đứa học trò nghịch ngợm, bất trị (?).

Tôi đã là chú học trò duy nhất không mang bệnh trì độn mà lại phải tốt nghiệp lớp năm tới ba lần. Việc tôi đi vào lịch sử, làm đứa học trò bị ở lại cái lớp học đầu tiên trong đời học trò liên tiếp 3 năm như vậy hoàn toàn là do cô giáo đầu tiên, cô giáo lớp năm của tôi.

Ngôi trường đầu tiên tôi đã học là trường tiểu học Đa Nghĩa, nằm ở đường Hai Bà Trưng, Đà Lạt. Dạo bấy giờ trường Đa Nghĩa chỉ có năm phòng học và một phòng nhỏ dành cho ông hiệu trưởng. Cách trường một quãng ngắn là căn nhà xíu xiu của ông cai trường. Bà cai trường mở cái quầy hàng trong nhà, chuyên bán bánh kẹo, trái cây cho học trò. Trường có tất cả mười lớp, chia làm 5 lớp buổi sáng và năm lớp buổi chiều, từ lớp năm đến lớp nhất. Lớp tôi học nằm trong phòng đầu tiên, kế đến là lớp tư, lớp ba, lớp nhì, lớp nhất. Ngang phía lớp ba có treo một cái trống da bự tổ chảng để ông cai trường giữ nhiệm vụ đánh trống báo giờ. Trường chưa có lớp mẫu giáo nên chỉ nhận con nít 6 tuổi vào lớp năm. Hồi đó con nít chưa tới 6 tuổi chưa được đi học. Riêng tôi trường hợp ngoại lệ, tôi được đi học từ năm 4 tuổị

Tôi nhớ mãi những lần đầu tiên được đi học vì tôi có tới 3 lần đầu tiên được đi học lận. Tôi có thể phịa theo lối "buổi sáng hôm ấy một buổi sáng đầy sương thu và đầy gió lạnh ..." để mô tả thời tiết của ngày đầu tiên mình được cắp sách đến trường. Tuy nhiên, phịa như thế thì hơi hơi quá cỡ, vì mặc dầu những buổi sáng tháng chín ở Đà Lạt thì lúc nào cũng có sương thu và có cái lạnh gay gay ôm phủ nhưng quả thật là tôi chẳng nhớ một tí ti gì về trời mưa hay gió trong những ngày đầu tiên mình được đi học.

Lần đầu tiên được đi học tôi không nhớ được nhiều, tuổi tôi lúc đó còn nhỏ quá. Lần đầu tiên thứ nhì, và thứ ba thì tôi nhớ rõ lắm. Tôi nhớ là không giống như những đứa trẻ khác mặt mũi xanh lè run rẩy bu cứng tay bố hoặc tay mẹ chẳng chịu buông ra khi được dẫn đến trường lần đầu, tôi đi học như đi chơi, tôi nhảy tưng tưng khi được mẹ dẫn đến trường. Tôi sung sướng hãnh diện trong bộ đồ mới, mặt kênh kênh ngước lên nhìn xuống thiên hạ trong cái thế giới chỉ gồm những đứa trẻ khác lần đầu tiên được đến trường. Đứng trước cửa lớp, nhìn đám con nít đang nép vào chân bố chân mẹ không chịu buông ra, nghe bố mẹ tụi nó nói những câu vỗ về, dỗ dành, nào là "con ngoan, học giỏi nghen con", hay "Nè nè, con trai lớn rồi, đừng có nhõng nhẻo người ta cười", hoặc "Ngoan đi nào, vào lớp học nghe lời cô giáo rồi trưa mẹ đến đón cho ăn bánh...”, tôi thấy tôi ngon lành dễ sơ.. Tôi anh dũng đi học chẳng phải được bị dỗ dành gì cả. Trong nguyên cả đám con nít lớp năm đang ngơ ngơ ngáo ngáo chỉ có một mình tôi là đứa cười toe toét, sung sướng được đến trường. Tôi đứng trước cửa lớp mình học, hãnh diện nhìn những đứa học trò sẽ chung lớp với mình. Tôi đang biết một điều thật quan trọng mà tụi nó chưa biết.

Đến giờ vào lớp, sau hồi trống “Thùng! Thùng! Thùng!” do ông cai trường đánh lên thì cô giáo lớp năm từ trong lớp bước ra. Cô mặc áo dài màu xanh da trời, khoác ngoài chiếc áo len trắng. Tóc cô bới cao, nét mặt nghiêm nghị, không cười. Trong khi những cô nhỏ chú nhỏ học sinh khác còn ngơ ngác, sợ sệt, đưa những cặp mắt tràn đầy lo âu nhìn cô giáo, đo lường xem cô sẽ là bà tiên với chiếc đũa thần hay là bà chằng với cây roi mây thì tôi hí ha hí hửng lon ton chạy đến đứng sát vào chân cô, mặt hãnh diện, vác vác lên, cười cười. Cô giáo hắng giọng: "Trò Đức. Không được chạy lộn xộn. Đứng xếp hàng đàng hoàng coi nào !". Tôi hơi tiu nghỉu chút xíu, quay trở lại đứng chung với đám học trò lúc bấy giờ đang bắt đầu xếp thành hàng một trước lớp, nhưng mặt tôi vẫn vênh váo. Tôi lấn lên, đứng đầu hàng. Tôi ngon lành số một. Tôi đứng hàng đầu để đám con nít nhớ mặt vì lát nữa đây cả lớp sẽ biết tôi là con cô giáo.

Cô giáo Trịnh Thị Thanh Tuyền, chuyên viên trị lớp năm ở trường tiểu học Đa Nghĩa là Má tôị

Tôi phải kể đầu đuôi gốc ngọn cái lý do mà tôi được học lớp năm từ thuở mới 4 tuổi. Gia đình tôi gốc người Trung, Quảng Nam thứ thiệt. Ông Nội Ông Ngoại tôi tương đối khá giả, có của, nhà có sân phơi lúa lát gạch đỏ rộng thênh thang. Mặc dầu miền Trung nghèo, đất không đủ rộng để có những cánh đồng cò bay thẳng cánh, nhưng tôi vẫn nhớ những đồng lúa chạy dài từ dãy tre bên này tới tít đường rầy xe lửa xa thiệt xa phía bên kia bờ đất của Ông Nội, Ông Ngoại mình. Hồi tiểu học, trong những lần được về quê thăm Ông Bà Nội Ngoại, tôi vẫn thường đứng so sánh ruộng lúa của quê mình với những miếng đất trồng xà lách, trồng bắp sú vừa nhỏ xíu vừa méo xẹo ở Đà Lạt và vẫn ước ao làm sao đem được những ruộng lúa ấy vào Đà Lạt bán lấy tiền để nhà mình bớt nghèo.
Hồi tôi còn nhỏ gia đình tôi nghèo lắm. Theo phong trào tự lập, không nhờ cậy đến cha mẹ, và có lẽ một phần cũng vì những xung khắc chính trị ở miền Trung thời bấy giờ nên sau khi cưới nhau được vài năm, đẻ ra hai thằng con, Ba Má tôi anh dũng tay bế thằng lớn tay bồng thằng nhỏ đem nhau vào Đà Lạt lập nghiệp. Thời bấy giờ đa số các trường tiểu học chưa có lớp mẫu giáo. Cha mẹ có con còn nhỏ nếu có tiền thì mướn người trông em, cha mẹ nghèo không đủ tiền mướn người thì đem con gởi hàng xóm, hoặc trong nhà cũng có cô, dì, chú, bác ... trông nom hô.. Cùng lắm thì đứa lớn trông đứa nhỏ, anh chị em chăm sóc lẫn nhau trong lúc cha mẹ đi làm chớ nói chung chung thì những nơi gọi là "vườn trẻ" chưa thấy xuất hiện lúc bấy giờ.

Vào Đà Lạt lập nghiệp, Ba Má tôi nghèo xơ xác, nghèo te tua. Ba tôi kiếm được việc làm ở một xưởng cưa ở đường Phan Đình Phùng. Ông vừa là thư ký, vừa là thầy dạy kèm cho mấy người con của ông bà chủ hãng cưa. Lương thư ký xưởng cưa của Ba tôi có lẽ ít xỉn, vì vậy, "mái ấm gia đình" của Ba Má tôi hồi đó chỉ là một căn phòng nhỏ thuê lại ở phía sau căn nhà của ông bà Tân làm nghề trồng bắp sú. Nói là căn phòng cho oai chứ thật ra đó chỉ là cái kho nhỏ mà ông bà Tân thường dùng để chứa cuốc xẻng. Nhà ông bà Tân ở phía trên cái dốc nghiêng, cái kho ở phía cuối dốc. Cái kho là phần kéo dài ra từ căn nhà gỗ được Ba tôi sửa lại, kê vừa đủ hai cái giường, một cái tủ nhỏ, và cái bàn tí teo vừa làm bàn ăn vừa làm bàn học của Ba tôi. Mùa mưa, nước hồ Vạn Kiếp theo con suối sau vườn đem bùn đất vào thăm mái ấm gia đình của Ba Má tôi là chuyện thường. Tôi với thằng em kế đi tới đi lui trong nhà trên mấy miếng ván bắc làm cầu ngang qua hai cái giường và bậc tam cấp đi lên nhà trên. Dĩ nhiên, tôi đi, còn nó thì bò. Hồi đó tôi nhỏ quá chưa biết câu cá chứ nếu đã biết móc mồi buộc dây cước gắn vào cần câu có lẽ thể nào tôi cũng làm được cái trò "chiều nay em ... ngồi trên giường câu cá, về cho má nấu canh chua ...".

Sống trong cảnh nghèo như vậy nhưng Ba Má tôi vẫn nhất quyết tự lập chứ không nhờ cậy đến gia đình ở ngoài Trung. Ba tôi vừa đi làm, vừa đi học lại. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ những hình ảnh thật ấm cúng ở căn phòng nhỏ này. Tôi nhớ một cách kỳ lạ hình ảnh những lúc Má tôi lui cui nhen lửa nấu cơm, nhớ ánh lửa hồng hồng, nhớ cây đèn dầu trên bàn học của Ba tôi, và nhất là nhớ hình ảnh Má tôi ngồi tháo len từ mấy chiếc áo len cũ to bành ki mua ở chợ trời ra để đan lại cái áo len khác cho các con mình. Hồi đó, ngồi đưa hai tay làm khung để Má tôi quấn len cũ vào, tôi chỉ cảm thấy thú vị khi nhìn những sợi len cũ quăn quăn quấn thành từng vòng trên tay mình. Sau này tôi mới cảm nhận một trong những bài học đầu tiên mà Má tôi đã dạy cho tôi là tính tháo vác, biết xoay xở xử dụng những gì có thể có được để tạo nên những gì muốn có.

Khi bắt đầu lớn lớn lên chút rồi, nghĩ lại những hình ảnh đã qua, tôi thấy cảm phục sự quyết tâm tự lập của Ba Má tôi vô hạn. Tôi nghĩ cái bài học vô giá mà Ba Má tôi đã dạy cho anh em tôi là tinh thần tự lập, cố gắng vươn lên ở đờị Tôi thường nghĩ đến cái sân gạch và căn nhà ngói rộng mấy gian của Ông Bà Ngoại, nghĩ đến những người làm tấp nập lui tới trong những ngày lễ lộc ở quê, rồi nghĩ đến những năm tháng đầu tiên của gia đình tôi ở Đà Lạt, nghèo, thiếu thốn. Tôi nghĩ đến sự kiên trì không than van không ngửa tay xin bất cứ một ai của mẹ mình. Tôi nghĩ đến những lần Má tôi lội bộ mấy cây số đi dạy để tiết kiệm mấy đồng bạc xe lam. Nói thiệt, tôi sợ cái tính kiên trì của những bà Quảng Nam.

Năm 1957, gần một năm sau khi cùng với Ba tôi vào Đà Lạt sống trong "túp lều lý tưởng của anh và của em" là cái kho sau nhà ông bà Tân, Má tôi được tuyển làm giáo viên trường Đa Nghĩa. Tôi không nhớ hồi đó Má tôi đã gởi thằng em kế của tôi ở đâu để đi dạy. Phần tôi, hình như do sự rộng rãi thông cảm hoàn cảnh giáo viên nghèo mà chấp thuận của ông hiệu trưởng Bùi Văn Châu, tôi được Má tôi đem theo đến trường, vừa babysit, vừa dạy. Tôi bị được hân hạnh đi học sớm tới hai năm là vậy.

Trở lại chuyện đi học lần đầu, sau khi cho học trò vào lớp, cô giáo Tuyền bắt đầu đọc tên từng đứa, bắt mỗi đứa đứng lên cho cô nhớ mặt. Tôi cũng phải đứng lên như tất cả các học trò khác mặc dầu mặt tôi thì cô giáo Tuyền nhớ quá rồi. Sau đó tới màn khám vệ sinh. Cô giáo Tuyền dạy học trò theo lối "tiên học sạch sẽ, hậu học văn". Mỗi tuần ít nhất là một hai lần, cứ sáng vào lớp là cô giáo đi vòng vòng khám tai, khám cổ, khám tay học trò. Đứa nào cổ cáu ghét, vành tai hay phía sau vành tai có đất vì lười tắm rửa, hoặc đứa học trò nào có bàn tay cáu bẩn là thể nào cũng bị cô bắt chạy ra bồn nước gần cầu tiêu để rửa cho sạch sẽ trước khi được vô lớp học. Vô tới lớp, nạn nhân còn phải đưa tay, hay đưa tai đưa cổ cho cô giáo Tuyền khám rồi mới được về chỗ ngồi. Dĩ nhiên, tôi có lẽ là đứa học trò sạch sẽ nhất lớp vì cô giáo Tuyền mỗi buổi sáng lúc còn làm Má tôi chưa dẫn tôi đến lớp đã chăm nom tai cổ tôi rất cẩn thận.

Làm con cô giáo có những cái lợi, mà cũng có nhiều cái hại. Năm đầu tiên đi học, tôi tới lớp để ngủ gục. Chắc chắn trong năm đầu tiên này tôi ngủ hơi nhiều nên bây giờ tôi không nhớ gì lắm về niên học đầu tiên của mình. Đến năm thứ nhì thì tôi bắt đầu thấm những cái lợi hại của việc là con cô giáo. Má tôi ở nhà với cô giáo lớp năm của tôi là hai người đàn bà khác nhau, tuy hai là một, nhưng một lại là hai, khác nhau hoàn toàn. Lúc ở nhà, có lẽ vì căn phòng quá chật không có chỗ để tôi phá, nghịch, nên tôi ít bị phạt, ít bị đòn. Tôi thấy tình thương của Má tôi tràn đầy. Má tôi ở nhà hiền hoà, lo nấu cơm, giặt đồ, lo đút cơm cho thằng em kế tôi, lo chụm củi nấu nước tắm cho hai anh em tôi, dỗ cho cả hai thằng ngủ. Tới trường, trong cái áo dài muôn thuở và cái áo len muôn năm, Má tôi biến dạng thành nữ tướng với cây thước kẻ, sẵn sàng bắt những đứa học trò nghịch ngợm như tôi xoè tay nhận thưởng.

Vô tới trường, không những Má tôi biến thành cô giáo Tuyền mà tôi cũng biến thành "trò Đức". Tôi hết được gọi Má tôi bằng Má mà phải "thưa Cô", xưng "con" đàng hoàng. Thời gian đầu, "Má" với "Cô" lẫn lộn liên miên. Sau đó quen dần, tôi biết lúc nào phải gọi Má tôi bằng "Cô" để khỏi bị rầy. Tới gần cuối năm tôi học lớp năm lần thứ nhì thì hình như Má tôi sáng chế ra một phương pháp giáo dục mới, bắt thằng con của mình làm "gương tốt" cho cả lớp. Ánh mắt của cô giáo Tuyền theo tôi liền tù tì như sợ tôi biết mất xuống gầm bàn. Vô lớp, những câu "Trò Đức, ngồi thẳng lưng lên coi nào!", hoặc "Trò Đức, không được nghiêng đầu như vậy khi viết !" … , đã biến tôi thành ông Tiểu Phu Tử. Tôi nghiêm trang, đạo mạo, đàng hoàng hết cỡ trong lớp. Vì cô giáo Tuyền, trong lớp tôi là đứa học trò giỏi, viết chữ nắn nót, đánh vần khỏi chê. Tôi nhớ mãi hình ảnh Má tôi đứng trên bục, tay cầm cây thước kẻ nhịp nhịp theo những chữ đã được Má tôi viết sẵn trên tấm bảng đen, trong lúc tôi cùng đám học trò con nít vươn cổ lên rống "tờ i ti sắc tí, tờ i ti huyền tì, tờ i ti hỏi tỉ...". Và tôi cũng vẫn nhớ ý nghĩ vì là con cô giáo phải làm gương cho những đứa học trò khác nên tôi gào to lắm, gào lớn nhất lớp.

Phương pháp Má tôi dạy học trò là xem học trò như con mình và xem con mình như học trò. Trò Đức là con cô giáo, nên trò Đức lúc nào cũng bị cô giáo bắt làm gương cho những đứa học trò khác. Cô trị trò Đức thiệt kỹ để những đứa học trò khác sợ, phải học đàng hoàng. Khổ nổi, tôi hay nghịch, thích phá, thích đùa, thích bắn bi đá dế hơn thích học nên vì cái chuyện làm gương này mà tôi tự động biến thành hai người. Trong lớp, tôi bị cô giáo Tuyền theo dõi dữ quá nên như trên đã nói, tôi biến thành ông Tiểu Phu Tử, ngoan ngoãn, hiền lành. Đến giờ ra chơi, tôi biến thành ông tiểu tặc. Cậy thế con cô giáo, tôi bắt nạt đám học trò cùng lớp hết mình. Vì cô giáo Tuyền không bao giờ cho tiền trò Đức để trò Đức chạy tới nhà bà cai trường mua bánh mua kẹo nên trò Đức phải bóc lột đám con nít cùng lớp. Tới giờ ra chơi là tôi chạy thẳng đến đứng sẵn trước cái quán nhỏ của bà cai trường, đợi đám con nít cùng lớp hối lộ. Tôi thuộc lòng những câu nói "mày không cho tao ăn tao nói Má tao không cho mày lên lớp", hoặc "mày chia cho tao nửa cái bánh tráng khoai nếu không tao nói Má tao bắt mày quỳ gối đó nghe" ... Và những câu nói này được tôi đứng thẳng lưng, nghiêm trang phán ra với nét mặt vô cùng nghiêm trọng nên rất có kết quả. Cái quán nhỏ của bà cai trường trong những giờ ra chơi đã là thiên đường của trò Đức suốt hai năm liền.

Khoảng đầu năm lớp năm thứ ba là lúc mà lần đầu tiên tôi bị cô giáo Tuyền thưởng hai khẻ tay vì tội nghịch. Lúc này tôi đã đúng tuổi học lớp năm. Lúc này cũng là lúc tôi đã có thêm một thằng em nữa ở nhà. Gia đình tôi lúc bấy giờ đã khá khá lên chút xíu, không còn ở trong túp lều lý tưởng có mấy tấm gỗ bắt ngang qua hai cái giường nữa. Gia đình tôi dọn về ở số nhà 84 đường Hai Bà Trưng. Ba Má tôi đã thuê hẳn một căn nhà. Ba tôi đã thôi làm thư ký hãng cưa, ông bắt đầu đi dạy ở trường trung học Tinh Hoa, và Má tôi đã tìm được một chị giữ em giúp việc nhà. Cô giáo Tuyền đi dạy có khi mặc áo dài màu xanh, có khi mặc áo dài màu vàng, màu tím.

Tôi chẳng nhớ mình đã nghịch gì, phá gì, để đến nỗi bị đòn, nhưng cái lần bị cô giáo Tuyền đánh hai khẻ tay đó tôi bị mất mặt bầu cua dễ sợ. Cô bắt tôi đứng thẳng người, xoè bàn tay (ôi bàn tay năm ngón bắn bi hết sẩy của tôi!) thẳng ra, rồi cô cầm cây thước kẻ bằng gỗ, đánh vào tay tôi hai cái. Lúc chưa xoè tay ra, thiệt tình tôi không sợ. Đầu óc nhỏ xíu của tôi lúc bấy giờ suy luận những điều như "hùm dữ còn không nỡ ăn thịt con", tôi nghĩ cô giáo Tuyền chỉ hăm tôi thôi chớ không đánh thiệt. Tôi xoè tay ra mà không sợ lắm, bàn tay tôi khum khum, miệng tôi hình như có cười cười, mắt lấm lét cầu tài. Mới hồi tối hôm qua cô giáo Tuyền còn cẩn thận đắp thêm mền cho tôi với hai thằng em tôi mà chẳng lẽ bây giờ cô đánh tôi thiệt sao? Nhưng, như tôi đã nói, cô giáo Tuyền với Má tôi tuy hai là một, tuy một mà lại là hai. Lúc cầm cái thước kẻ bằng gỗ, Má tôi đã biến dạng, thành hùm dữ nỡ lòng ăn thịt con thiệt. Má tôi, cô giáo Tuyền, dám đánh tôi hai thước kẻ đau điếng trước mặt những đứa con nít bị tôi hăm dọa, bóc lột.

Hai tiếng "chách, chách" do gỗ chạm thịt gây ra làm tôi nhăn mặt vì đau và quặn lòng vì bị mất mặt trước lũ học trò cùng lớp. Tôi khóc oà. Khóc lớn. Tôi vừa đau tay mà lại vừa đau lòng vì biết là từ đây tôi sẽ khó mà bắt nạt được đám con nít cùng lớp để ăn bánh ăn kẹo của tụi nó trong giờ ra chơi. Cô giáo sức mấy mà nghe lời con cô giáo nữa nếu cô giáo cũng đánh con cô giáo như đánh những đứa học trò khác. Ôi, thôi rồi cái thiên đường của tôi trong những giờ ra chơi. Tôi đau ở bàn tay bị đòn thì ít mà tôi tủi thân vì bị mất mặt bầu cua thì nhiều. Tôi hu hu nức nở, gục đầu xuống bàn sụt sịt lâu thiệt lâu. Tôi khóc cho những kẹo bánh không mất tiền mua từ nay sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn gặp lại nữa. Rồi hình như tôi ngủ luôn cho đến giờ tan trường.

Sau lần bị đòn đó, tôi nghiệm được ra là tôi không thể dựa hơi của cô giáo Tuyền khi chơi với bạn bè cùng lớp. Tôi không thể dùng cái thế con cô giáo để chơi lấn bạn bè mình. Dần dà, khi lớn lên, điều tôi nghiệm ra trở thành một trong những điều tâm niệm của tôi khi đối xử với mọi người.

Má tôi, cô giáo Tuyền của tôi trong ba năm lớp năm liên tiếp đã dạy tôi rất nhiều khi tôi còn nhỏ và cả khi tôi đã lớn lên vẫn tiếp tục dạy, nhưng bài học tôi nhớ mãi vẫn là bài học được dạy qua hai cái khẻ tay lúc tôi 6 tuổi, học lớp năm lần thứ ba trong đời học sinh. Suốt những năm đi học, rồi khi vào đời, bài học từ hai cái khẻ tay (đau điếng) đó đã giúp tôi đối xử với bạn bè rất bình đẳng, giúp tôi chơi với bạn rất ngang hàng, không cậy vào bất cứ gì ngoài tình thân hữu với bạn.

Làm người mẹ, Má tôi dạy tôi tinh thần cầu tiến, chịu đựng. Làm cô giáo đầu tiên của tôi, Má tôi dạy tôi làm người.


:{ )

Không có nhận xét nào:

Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Tôi đi trong đời với một lòng tin , người viết cũng như một thầy thuốc , mang tới cho người đọc những liều thuốc tinh thần , chữa lành cho họ những vết thương lòng đang còn âm ỉ dày vò họ , làm sáng lên một ngày của họ , làm cho họ cảm thấy trong cuộc sống còn có cái gì đó để mà vui, và vịn vào , giúp họ phải mạnh , giúp họ đứng vững và giúp họ tìm ra chính bản thân họ là ai qua bài viết . Người viết cũng còn là một diễn viên trên sân khấu có thể làm cho người ta ghét , thương , căm và giận . Ai muốn sao tuỳ hỷ . Người viết phải tạo cho người đọc cảm xúc , hay người đọc không còn cảm xúc tìm lại được cảm xúc là mục tiêu duy nhất của tôi . Còn gì nữa , tôi là một người chẳng ra gì , đi trong cuộc đời , tôi coi thường tất cả , cái tôi trọng nhất là sự đơn giản , thành thật và tình người . Không có những điều đó , đời sống là vô nghĩa .